4/4/2013
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article
Hơn 4 năm sau ngày chính thức có hiệu lực, Bộ Tài chính - cơ quan soạn thảo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 (TNDN) thừa nhận Luật hiện hành đã bộc lộ một số tồn tại, chưa tạo động lực khuyến khích cho doanh nghiệp.

Hơn 4 năm sau ngày chính thức có hiệu lực, Bộ Tài chính - cơ quan soạn thảo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 (TNDN) thừa nhận Luật hiện hành đã bộc lộ một số tồn tại, chưa tạo động lực khuyến khích cho doanh nghiệp.

Giảm thuế suất để tăng nguồn lực tài chính cho DN          

Đây là mục tiêu đặt ra trong Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thuế TNDN đang được Bộ Tài chính hoàn thiện.

Trên thực tế, theo đánh giá của Bộ Tài chính, Luật thuế TNDN hiện hành không theo kịp sự vận động của thực tiễn, như không có ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng nên chưa tạo động lực khuyến khích các DN đang hoạt động bỏ thêm vốn đầu tư; Một số khoản thu nhập cần được miễn thuế để phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế; Một số quy định về các khoản chi phí được trừ và không được trừ chưa thật sự phù hợp với tình hình phát triển kinh tế trong thời gian tới, chưa góp phần vào việc kiểm soát thu nhập, chi phí của DN. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Luật Thuế TNDN lần này là cần thiết, đồng thời cũng để đồng bộ với sửa đổi, bổ sung Luật Thuế GTGT.

Bộ Tài chính cũng khẳng định việc sửa đổi, bổ sung Luật này không ngoài mục tiêu tiếp tục tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, bảo đảm công bằng, bình đẳng trong cạnh tranh. Giảm mức thuế suất chung để DN có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích lũy, tích tụ đổi mới thiết bị, đẩy mạnh đầu tư phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh; tiếp tục cải cách ưu đãi thuế nhằm tạo sự chuyển biến trong phân bổ nguồn lực, khuyến khích và thu hút đầu tư có chọn lọc, phù hợp với xu thế cải cách thuế và thông lệ quốc tế...

Mức thuế suất 23% là đảm bảo tính cạnh tranh, hấp dẫn đầu tư

Dự án Luật do Bộ Tài chính đang hoàn tất dự kiến sửa đổi, bổ sung 10/20 điều của Luật hiện hành, gồm 8 nhóm vấn đề với 18 nội dung, trong đó, nội dung sửa đổi, bổ sung chủ yếu là về thuế suất, về ưu đãi thuế, về thu nhập miễn thuế và thu nhập chịu thuế, về các khoản chi được trừ, không được trừ... Các điều khoản sửa đổi, bổ sung đều giảm nghĩa vụ, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.

Về thuế suất, Dự án Luật điều chỉnh giảm mức thuế suất phổ thông từ 25% xuống 23%, đồng thời điều chỉnh giảm mức thuế suất từ 25% xuống còn 20% áp dụng đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa (sử dụng dưới 200 lao động và có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng).

Việc đề xuất giảm thuế suất như trên, theo Bộ Tài chính là căn cứ cơ sở thực tiễn, phù hợp với xu thế của nhiều nước trên thế giới và cũng là một bước thực hiện Chiến lược cải cách thuế đến năm 2020. Đối với DN có quy mô nhỏ và vừa là nhóm đối tượng chiếm số lượng lớn, dễ chịu tác động, ảnh hưởng trước bối cảnh khó khăn của nền kinh tế cần có biện pháp tháo gỡ kịp thời, bên cạnh đó cũng là loại hình DN thu hút phần lớn lực lượng lao động, tạo việc làm cho xã hội cũng như là cơ sở hình thành, phát triển thành doanh nghiệp lớn trong tương lai. Đây là cơ sở để xem xét việc điều chỉnh thuế suất xuống mức 20% đối với nhóm đối tượng này.

Kết quả 4 năm thực hiện Luật và so sánh với các nước cho thấy mức thuế suất phổ thông 25% là phù hợp với thực tế thời gian qua và là mức trung bình so với các nước trong khu vực (bằng với Trung Quốc). Kinh nghiệm các nước cho thấy gần đây các nước có xu thế cải cách thuế theo hướng giảm dần mức thuế suất phổ thông để tạo sự hấp dẫn, tăng tính cạnh tranh môi trường đầu tư trong thu hút đầu tư. Điển hình là Malaysia, từ năm 2005-2009 đã 3 lần điều chỉnh giảm mức thuế suất phổ thông, mỗi lần giảm 1% (từ 28% năm 2005 xuống 25% năm 2009). Thái Lan qua các lần điều chỉnh thuế suất phổ thông cũng đã giảm từ mức 30% năm 2005 xuống còn 23% năm 2012. So với các nước trong khu vực và thế giới thì mức thuế suất phổ thông giảm xuống còn 23% (riêng DN có quy mô nhỏ và vừa chỉ còn 20%) là mức tương đối thấp, đảm bảo tính cạnh tranh, hấp dẫn thu hút đầu tư.

Dự thảo Luật mới của Bộ Tài chính cũng đã bổ sung thêm lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn ưu đãi (ngoài các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi theo Luật Thuế TNDN hiện hành). Cụ thể, bổ sung vào diện áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế trong 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo đối với DN thành lập mới từ dự án đầu tư sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới không sử dụng nhiên liệu hóa thạch; phát triển công nghệ sinh học; bảo vệ môi trường; DN công nghệ cao, DN nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao... Bổ sung vào diện áp dụng thuế suất 10% đối với thu nhập từ thực hiện dự án nghiên cứu phát triển; dự án ứng dụng công nghệ cao; dự án ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo DN công nghệ cao....

Thanh Bình (giaothongvantai.com.vn)

 

 

Các tin khác

Thư viện hình ảnh

Hội chuyên ngành XD


Hội viên tập thể


Quảng bá doanh nghiệp






123456