7/10/2019 9:47:00 AM
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article
... xin giới thiệu một bài viết có tính nghiên cứu để tham khảo về tình hình quản lý xây dựng ở nước ngoài trên cơ sở đó có thể đối chiếu so sánh với tình hình quản lý xây dựng ở nước ta...

      NỘI DUNG PHỔ CẬP  CỦA LUẬT XÂY DỰNG Ở CÁC QUỐC GIA

      

LTS. Luật Xây dựng 2014 (số 50/2014/QH13) hiện nay đang được Bộ Xây dựng chủ trì khẩn trương sửa đổi bổ sung. Tổng hội Xây dựng Việt Nam rất quan tâm và đã tích cực đóng góp vào bản Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Luật này. Nhân dịp này BBT xin giới thiệu một bài viết có tính nghiên cứu để tham khảo về tình hình quản lý xây dựng ở nước ngoài trên cơ sở đó có thể đối chiếu so sánh với tình hình quản lý xây dựng ở nước ta.

Sản phẩm xây dựng có đặc thù khác với các sản phẩm khác ở chỗ:

1.              Tồn tại trong nhiều năm, nhiều thế hệ thậm chí nhiều thế kỷ.

2.              Là một tài sản lớn đối với cá nhân cũng như đất nước; chiếm một vị trí trên mặt bằng và không gian kể cả dưới lòng đất không nhỏ.

3.              Công năng rất đa dạng, phong phú; ảnh hưởng đến sinh hoạt và hoạt động của con người; gây tác động đến môi trường; làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ, tình cảm, tâm tư và sự an nguy của con người về cả hai mặt tích cực hoặc tiêu cực.

4.              Nhìn chung là sản phẩm đơn chiếc, được tạo ra bởi nhiều người và yêu cầu những người đó phải có trình độ kỹ thuật, mỹ thuật nghề nghiệp.

Chính vì những đặc điểm trên mà từ trước đến nay trên thế giới không một nước nào lại có thể bỏ qua được việc quản lý xây dựng. Việc quản lý này đã được thể hiện dưới hình thức Luật, bộ Luật, Sắc lệnh của Tổng thống…Tuỳ theo sự phát triển của nền kinh tế của đất nước, tuỳ theo trình độ phát triển của dân trí cũng như phong tục tập quán của mỗi nước mà họ có những cách quản lý khác nhau. Tuy vậy, tựu trung lại việc quản lý xây dựng của các nước đều tập trung vào 2 nội dung chính:

 Nội dung quản lý thứ nhất: Quản lý cá nhân và tổ chức tham gia hoạt động xây dựng.

 Nội dung quản lý thứ hai: Quản lý sản phẩm của cá nhân và tổ chức tham gia hoạt động xây dựng.

Để thực hiện được nội dung quản lý thứ nhất, người ta đã phân chia các công trình xây dựng thành những chủng loại cấp độ khác nhau và trong công trình đó phân chia các loại công việc xây dựng và đề ra những điều kiện, tiêu chuẩn cho các cá nhân, tổ chức muốn làm được công việc đó, công trình đó phải đạt được tiêu chuẩn gì. Chỉ khi đạt được các yêu cầu ghi trong quy định thì tổ chức, cá nhân mới được cấp giấy (chứng chỉ hành nghề, giấy phép, giấy chứng nhận đã đăng ký, có khả năng, giấy xác nhận năng lực..., tên gọi của các giấy này tuỳ thuộc vào từng nước) và chỉ khi có được giấy này thì cá nhân, tổ chức khi hoạt động xây dựng mới được coi là hợp pháp. Có một Ban, một Tổ, hoặc một Hội đồng xem xét và cấp giấy này.

Để thực hiện nội dung quản lý thứ hai, người ta chia quá trình tạo ra sản phẩm xây dựng ra làm 2 giai đoạn:

* Giai đoạn thứ nhất: Sản phẩm của giai đoạn này tạm gọi là sản phẩm trên giấy, bao gồm việc lập dự án (tiền khả thi, khả thi), công việc thăm dò, đo đạc, khảo sát, thiết kế. Việc kiểm tra sản phẩm giai đoạn này được thể hiện bằng Giấy phép quy hoạch (ở một số trường hợp), Giấy phép xây dựng (có nước kết hợp 2 loại giấy này làm một gọi là Giấy phép xây dựng). Ở giai đoạn này chỉ khi nào công việc khảo sát, thiết kế đảm bảo được chất lượng và phù hợp với quy hoạch thì mới được cấp Giấy phép xây dựng.

* Giai đoạn thứ hai: Là quá trình xây lắp, nghiệm thu, bàn giao; kết quả kiểm tra giai đoạn này được thể hiện bằng Chứng chỉ sử dụng công trình, chỉ khi nào chất lượng xây lắp tốt, sử dụng an toàn thì mới được cấp chứng chỉ sử dụng.

Như vậy là có 3 loại giấy là công cụ để quản lý xây dựng:

-                 Giấy phép hành nghề (Builder’s Licences).

-                 Giấy phép xây dựng (Building Permits).

-                 Giấy chứng nhận công trình được phép sử dụng (Occupency Permits). Gọi tắt là chứng chỉ sử dụng công trình.

Tuy tên gọi ở mỗi nước có khác nhau nhưng nội dung của những vấn đề phải quản lý thì giống nhau và 3 loại giấy này là một thể thống nhất bổ sung, hỗ trợ cho nhau, không thể thiếu một trong 3.

Thẩm quyền cấp 3 loại giấy trên là d Cơ quan nhà nước phụ trách về công nghiệp xây dựng ở địa phương cấp, tập trung vào một đầu mối và áp dụng cho bất kỳ một tổ chức nào, cho bất kỳ loại công trình nào, không phân biệt tổ chức hoặc nguồn vốn thuộc thành phần kinh tế nào.

Chỉ có người có chức năng thuộc cơ quan nhà nước (Building Controller, Building Official) mới có thẩm quyền cấp 3 loại giấy trên. Để có các loại giấy trên, đương sự (applicant) phải lập hồ sơ và đơn theo mẫu quy định và phải đóng lệ phí. Khi cơ quan nhà nước không đáp ứng được yêu cầu của đương sự thì đương sự có quyền khiếu nại lên Ban giải quyết khiếu nại về xây dựng (Board of Appeals). Cơ cấu, thành phần của Ban giải quyết khiếu nại đủ để giải quyết vấn đề một cách công minh và khách quan.

Đó là những nguyên tắc quản lý xây dựng cơ bản mà nước nào cũng áp dụng. Tuy nhiên cũng  tuỳ theo quy mô và tầm quan trọng của từng công trình mà mức độ quản lý có khác nhau, có những công trình quá nhỏ, không quan trọng, ở nhưng nơi xa xôi hẻo lánh, công trình dân tự làm không làm ảnh hưởng đến ai thì sự quản lý đôi khi được miễn giảm tuỳ theo quy định của từng nước. Nội dung quản lý xây dựng nói trong chuyên đề này là Quản lý nhà nước về xây dựng. Còn đương nhiên các chủ đầu tư, các ban quản lý dự án, các doanh nghiệp tư vấn xây dựng và doanh nghiệp xây lắp cũng có nội dung quản lý xây dựng nhưng nội dung quản lý này chủ yếu là quản lý chất lượng sản phẩm có tính đơn lẻ và cục bộ phục vụ cho lợi ích riêng của mình.

Tuy nói Nhà nước độc quyền cấp 3 loại giấy phép trên, nhưng trong thực tế ở nhiều nước, nhất là ở những nước phát triển, thường thì bộ máy quan chức tinh giản đến mức tối đa, nên các nhân viên của Nhà nước không thể làm hết được mọi việc. Vì vậy, họ đã phân việc về cho các cơ quan chuyên môn có tư cách pháp nhân đảm nhận cũng như các Hội, Hiệp hội nghề nghiệp cũng đóng góp một vai trò rất quan trọng. Khi một quy  hoạch chi tiết đã được Hội đồng thành phố phê duyệt, sẽ được công bố, người dân ai cũng biết, tuy vậy không phải ai cũng có chuyên môn để hiểu tường tận vấn đề quy hoạch với đầy đủ mối quan hệ của nó, vì thế một Công ty (đa phần là Công ty Tư vấn xây dựng), hoặc một Viện, Trung tâm nào đó sẽ nhận bao thầu việc quản lý quy hoạch đó, pháp nhân này được thu phí và chịu trách nhiệm trước Nhà nước (cụ thể là Hội đồng thành phố) để quản lý quy hoạch này. Khi có sự điều chỉnh quy hoạch thì Hội đồng thành phố sẽ thông báo kịp thời cho pháp nhân nhận thầu biết để thực hiện. Pháp nhân nhận thầu này sẽ cấp chứng chỉ quy hoạch, cấp giấy phép xây dựng (sau khi đã kiểm tra đồ án thiết kế). Mô hình quản lý kiểu này người ta đã thấy bắt đầu xuất hiện ở một số vùng của Vương quốc Anh cũng như ở một vài bang của Australia. Còn việc quản lý năng lực hành nghề cho cá nhân như: kiến trúc sư, kỹ sư, công nhân kỹ thuật... vai trò của các Hội nghề nghiệp đã giữ một vai trò tích cực. Thường thì các Hội nghề nghiệp tổ chức thi sát hạch, kiểm tra trước khi cơ quan nhà nước cấp chứng chỉ. Ở đây, người ta thấy có sự phối hợp rất chặt chẽ giữa cơ quan Quản lý nhà nước với các Hội nghề nghiệp, có thể nói Mỹ và Australia đã làm rất tốt việc này. Cũng cần nêu rõ tuy nhà nước giao (uỷ quyền) cho các tổ chức, cá nhân thực hiện một phần công việc mà đáng ra nhà nước phải làm nhưng định kỳ nhà nước kiểm tra, giám sát xem tổ chức, cá nhân được uỷ quyền đó có làm đúng hay không.

Những biện pháp để quản lý xây dựng của các nước trên thế giới được đặt ra không phải do một sự tuỳ tiện của một cá nhân có quyền lực nào, mà tất cả đều được pháp luật hoá. Những văn bản quy định của các nước, có nước được ghi trong Hiến pháp, có nước thành những Luật, bộ Luật riêng biệt hoặc Pháp lệnh, có nước là Nghị định của Tổng thống và văn bản thấp nhất cũng là Nghị định của Chính phủ trung ương.

Ví dụ: Ở Trung Quốc có Luật Xây dựng nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Luật Quy hoạch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa; ở Nga có Luật Quy hoạch xây dựng của nước Cộng hoà Liên bang Nga; tại các nước Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Canada, Hàn Quốc đã có Luật Xây dựng; tại Philippines, Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Hồng Kông... đều có Pháp lệnh  hoặc Nghị định của Tổng thống về xây dựng.

Để quản lý xây dựng có hiệu quả, luật lệ của các nước đều phân chia cấp hạng của các doanh nghiệp xây dựng và tư vấn xây dựng; phân chia thứ tự, chủng loại công việc; phân chia cấp hạng công trình.

- Ví dụ Malaysia đã chia các doanh nghiệp xây dựng ra làm 7 cấp (grade) theo vốn mà họ có, khi đến đăng ký phải xuất trình bản sao có công chứng của Ngân hàng về tình trạng tài chính bao gồm cả vốn và thiết bị của doanh nghiệp, phải có bản kê khai về những cán bộ chủ chốt của doanh nghiệp, ghi rõ họ tên, tuổi, số chứng minh thư, địa chỉ, quá trình đào tạo và số năm kinh nghiệm cũng như công trình họ đã làm. Malaysia chia công trình ra làm 3 chủng loại chính (category): Xây dựng công trình nhà cửa B (Building construction), Xây dựng kỹ thuật dân dụng CE (Engineering Construction) và Cơ - điện ME (Mechanical & Electrical). Trong B được chia ra làm 19 loại công việc, trong CE được chia ra làm 27 loại công việc và trong ME được chia ra làm 10 loại công việc.

- Cũng tại Malaysia theo Luật Đăng ký các kỹ sư năm 1967 (và được sửa đổi vào năm 1987), thì tất cả các kỹ sư kể cả các kỹ sư hoạt động tư vấn xây dựng đều phải được đăng ký trước khi hành nghề. Để thành lập các công ty tư vấn thì buộc những người chủ chốt của công ty phải có đăng ký hành nghề cá nhân. Như vậy ở Malaysia, công tác tư vấn xây dựng được tiến hành dưới hình thức cá nhân độc lập hoặc dưới hình thức công ty (theo Luật Công ty năm 1965). Ban lãnh đạo công ty phải là những kỹ sư, kiến trúc sư đã đăng ký, những người làm công tác khảo sát, giám sát khối lượng, đất đai hoặc một số những người chuyên môn khác theo lĩnh vực kỹ thuật đã đăng ký hoạt động. Đối với các kỹ sư nước ngoài mà không thường trú tại Malaysia thì luật pháp Malaysia cũng hạn chế không cho thành lập công ty riêng, nếu phối hợp với người Malaysia lập công ty thì họ chỉ đứng vai trò phụ, được phép liên doanh, liên kết để thực hiện từng dự án và ngay cả trong trường hợp này thì người Malaysia cũng giữ vai trò chủ chốt.

- Đăng ký kinh doanh, chứng chỉ kinh doanh (Trading Licence, Business Licence) lại thuộc một lĩnh vực khác và muốn được cấp giấy phép hành nghề xây dựng thì họ phải xuất trình đăng ký kinh doanh. Đăng ký kinh doanh chỉ là một thủ tục hành chính khai báo trước Toà án địa phương hoặc Sở Tư pháp.

- Singapore chia doanh nghiệp xây dựng ra làm 8 cấp (grade) tính theo vốn. Việc phân chia công trình và công việc chuyên môn của Singapore có chi tiết hơn của Malaysia đồng thời nêu rõ yêu cầu để làm được công việc đó phải là người có trình độ như thế nào. Australia, Hoa Kỳ chia công trình ra làm 10 hạng...

Ở Trung Quốc, nước kề cận và có rất nhiều đặc điểm giống ta, trong những năm qua pháp luật xây dựng của họ đã tỏ rõ uy lực của nó, làm cho công cuộc xây dựng đất nước phát triển vượt bậc trong kỷ cương pháp luật.

Đối chiếu với Luật Xây dựng của Việt Nam, ngay từ lần ban hành đầu tiên 2003, chúng ta đã thấy Luật của ta cũng tiệm cận với tính phổ cập của Luật Xây dựng thế giới. Có điều là chúng ta sử dụng từ khác ví dụ như ta không dùng cụm từ chứng chỉ sử dụng công trình mà dùng cụm từ biên bản nghiệm thu công trình, hoặc nhiều cụm từ khác. Luật của chúng ta quy định khá đầy đủ và chi tiết và đặc biệt là với công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước do sợ thất thoát lãng phí nên đã có những quy định khá chi tiết. Nếu tính cả các Nghị định của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn của liên bộ và Bộ Xây dựng thì có thể khẳng định là hệ thống pháp luật về xây dựng của ta là khá đầy đủ và chi tiết. Yếu điểm lớn nhất của ta là việc thực thi luật chưa nghiêm minh vì tính công khai minh bạch của các dự án còn thiếu, và vai trò giám sát của cộng đồng còn rất yếu vì không được cung cấp thông tin đầy đủ.

Nguyễn Xuân Hải

 

 

Các tin khác

Hội chuyên ngành XD


Hội viên tập thể







123456