4/8/2019 11:46:00 AM
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article
Như tin đã đưa, ngày 4/4/2019, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã từ trần ở tuổi 96. Nhớ đến ông, nhiều người vẫn nhớ đến một vị Tướng can trường trong những năm tháng khói lửa Trường Sơn, kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Người đã chỉ huy những cuộc hành quân thần tốc trong chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, góp phần vào công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

ĐÔI LẦN VỚI VỊ TƯỚNG ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN

 

Như tin đã đưa, ngày 4/4/2019, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã từ trần ở tuổi 96. Nhớ đến ông, nhiều người vẫn nhớ đến một vị Tướng can trường trong những năm tháng khói lửa Trường Sơn, kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Người đã chỉ huy những cuộc hành quân thần tốc trong chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, góp phần vào công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. 

 

Tướng Đồng Sỹ Nguyên (giữa) duyệt phương án vận chuyển xăng dầu cho mặt trận Tây Nguyên năm 1969.

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghe báo cáo từ tướng Đồng Sỹ Nguyên trong chiến dịch đường 9 Nam Lào, năm 1970

 

Năm 1971, tướng Đồng Sỹ Nguyên tại khu căn cứ chỉ huy Xê Pôn, chiến dịch đường 9 Nam Lào. 

 

Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên thăm và động viên các chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn vận tải 101 trong chiến dịch mùa khô 1970-1971

 

“Đoàn tàu tốc hành Bắc - Nam lăn bánh từ Hà Nội lúc 8 giờ tối, sau 4 đêm 3 ngày, đến 9 giờ sáng thì tới ga Sài Gòn. Tốc hành ư? Nghe khá nực cười. Để vượt qua quãng đường chưa đầy 1.700km phải mất 84 giờ, nghĩa là mỗi giờ đi được 20km, thật là một tốc độ đáng xấu hổ. Trên chuyến tàu đó tôi đã đồng hành với một phụ nữ . Trong toa tàu nằm, mỗi ngăn bốn giường, hai trên hai dưới. Phụ nữ đi tầu nằm cũng lắm cái bất tiện. Nằm ở giường dưới thì chống chếnh chông chênh, chẳng kín đáo chút nào. Nằm giường trên thì phải leo trèo, cúi đầu, khom mình. Leo trèo vốn không phải là sở trường của phụ nữ, nhất là với chị, một thân hình khá nặng nề và chậm chạp. Cũng chẳng cần biết tên tuổi, làm nghề gì, ở đâu, vào Nam để làm gì, nhưng cùng toa, cùng ngăn thì tin nhau và chuyện trò với nhau thân mật như người nhà. Ngay từ khâu để hành lý, chị nói: Chú cho chị gửi đồ ở ngăn của chú, để ở giường chị vừa chật vừa nặng. Tôi lật giường có bản lề phía trong, cho tất cả hành lý của chị và của tôi vào đó. Đúng là một cái két lý tưởng. Kẻ trộm chỉ có thể dựng người tôi lên mới ăn trộm được hành lý. Chị chỉ để một số thứ cần dùng trên chuyến đi lên giường của chị. Chị có khuôn mặt tròn, phúc hậu, ăn nói rất nhẹ nhàng. Qua các câu chuyện tôi thấy kiến thức sách vở của chị tuy ít nhưng kiến thức xã hội và kinh nghiệm sống của chị thì rất nhiều. Chị không tỏ ra quan cách, quý phái, nhưng cũng không thật sự như một người dân bình thường. Chị nói chuyện nhẹ nhàng và rất có duyên, đôi lúc còn pha chút hài hước. Có lẽ chị cũng giống tính tôi ở cái khoản hài hước. Trong suốt cuộc hành trình, từ ăn sáng, ăn trưa, ăn tối, tôi đều mang cơm về giúp chị, bởi toa nằm cách toa ăn đến bốn toa nữa, mà qua lại phải chen chúc rất khó khăn. Thỉnh thoảng, chị lại thò tay xuống đưa cho tôi mấy cái kẹo ngon. Đến ga Diêu Trì, ga gà nổi tiếng thời đó, chị nhờ tôi mua hộ cái đùi gà. Chiếc đùi gà mới luộc vẫn còn nóng. Sau khi đưa cho chị chiếc đùi gà, không đầy 5 phút, chị kêu lên: “Thôi chết rồi, chị đang uống thuốc phải kiêng thịt gà, chị nhờ chú ăn hộ”. Khi ăn đùi gà tôi mới nghĩ ra: Chị muốn chiêu đãi tôi cái đùi gà nên mới bày ra chuyện đó. Bởi nếu không làm thế thì đời nào tôi chịu ăn.

Tàu vào ga Sài Gòn, tôi xách giúp chị hành lý. Một người đàn ông to cao, mũi dọc dừa, áo sơ mi trắng cộc tay bỏ ngoài quần bộ đội, màu cứt ngựa, đi giày tây đen, người đàn ông đó chính là chồng chị. Đến lúc xuống tầu tôi mới biết tên chị là Lan, còn người chồng của chị, ông là Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ông đỡ hành lý từ tay tôi rồi cảm ơn. Chị Lan kể lể về sự giúp đỡ của tôi trên tàu. Cả hai vợ chồng ông đều rất chân tình mời tôi đến chơi, ghi rõ cả số nhà, đường phố ở Sài Gòn nơi tạm trú của họ. Tôi cảm ơn và cũng không nói gì thêm. Tôi không thuộc mẫu người “Thấy người sang bắt quàng làm họ”, nên trong suốt một tháng ở Sài Gòn, tuy có nhiều lúc rảnh rỗi, nhưng tôi đã không đến. Thực ra thì ông không nhớ tôi, còn tôi thì rất nhớ ông, tôi đã tiếp xúc với ông một vài lần khi ông phụ trách Bộ Xây dựng. Quân nhớ tướng, làm sao tướng nhớ hết được quân, nhất là không phải là quân trực tiếp. Tôi nhớ một lần, tôi đến phòng ông để trình bày với ông là có một cuộc họp của các nhà khoa học tiêu biểu của ngành, muốn mời ông đến phát biểu để động viên các nhà khoa học. Ông vặn hỏi: Căn cứ vào đâu mà gọi họ là tiêu biểu, các chú đã có bình xét gì chưa. Đừng làm cái việc khiến cho người ta thắc mắc, giữa những người được mời và không được mời. Tuy không nói ra rõ ràng, nhưng tôi còn hiểu là ông cho rằng:

Với chiến sĩ, công nhân thì cần động viên, khích lệ, còn với các nhà khoa học, các nhà trí thức thì họ có nhiệm vụ phải động viên người khác và phải tự động viên chính bản thân mình, vì họ là trí thức. Tuy vậy, ông vẫn nhận lời đến cuộc họp. Mở đầu lời phát biểu ông nói: “Tôi đến đây là một sự bắt buộc...”. Là người tổ chức cuộc họp, tôi buồn vì cái tính cương trực của ông. Sau khi tuyên dương qua loa một số thành tích của anh chị em, ông bắt đầu phê phán các nhà khoa học của ta thường không đoàn kết, tự cao tự đại, hay đòi hỏi, xa rời thực tế, xa rời công nhân, không ai chịu phục ai. Ông nói kể cũng hơi quá, nhưng không phải là không có phần đúng. Các nhà khoa học của ngành vốn lâu nay ưa nịnh, muốn cái gì cũng nhẹ nhàng, muốn được tâng bốc, nay bị ông cho một gáo nước lạnh, họ cảm thấy thất vọng. Lúc đó ông chưa chữa được bệnh viêm xoang mũi, nên cứ nói được vài câu lại khịt khịt...

Buổi trưa hôm đó, công nhân công trường lắp ghép nhà ở tấm lớn ở Thanh Xuân lắp các tấm vế thang. Tấm vế thang đặt chưa đúng vị trí, thợ hàn lại hàn ẩu. Sau khi nhấc cần cẩu ra, tấm vế thang bị bong mối hàn, đổ sập xuống, làm rụng thêm hai vế thang nữa. Các tấm bê tông chạm vào nhau vỡ tan tành. Giám đốc Công ty vội phôn ngay cho ông báo cáo sự việc. Ông hỏi có ai việc gì không, rất may không ai việc gì. Ông chỉ thị cho dọn dẹp ngay. Ông chúa ghét bị người khác châm chọc vào công việc mình đang làm. Trong cuộc họp giao ban, ông Phó Vụ trưởng Vụ Kỹ thuật thao thao báo cáo về vụ sập cầu thang ở Thanh Xuân, phân tích nguyên nhân, hậu quả, rồi kết tội Công ty thế nọ thế kia, ông muốn thể hiện với Bộ trưởng rằng Vụ Kỹ thuật của ông là rất sâu sát với công việc bởi ông chắc là Bộ trưởng chưa nhận được thông tin này. Cũng không ngờ, ông Vụ phó lại nhận được một bài học: “Lắp ghép tấm lớn là một công việc mới, ngành ta chưa có kinh nghiệm, vừa làm vừa học, có sai thì sửa, sao làm ầm ĩ lên để làm gì...”

Khi làm Bộ trưởng Xây dựng, năm 1979, chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra, người con trai yêu quý của ông đã hy sinh trên mặt trận. Ông đau đớn đến xé lòng, trùm chăn nằm, không muốn tiếp bất kỳ ai, ông không muốn để người khác chứng kiến sự đau đớn, mất mát của mình. Ông có nhiều đức tính cao quý, được mọi người nể trọng. Báo chí, truyền hình cũng nói nhiều về ông khi có dịp nhắc đến con đường Trường Sơn huyền thoại.

Tên tuổi của ông còn gắn liền với cây cầu Chương Dương, cha đẻ của cây cầu, một cây cầu đầy hiệu quả kinh tế, mang lại niềm tự hào về tinh thần tự lực cánh sinh của dân tộc Việt. Về nghỉ hưu, tôi lại có dịp được gặp ông. Khi làm cuốn sách “Các nhà khoa học kỹ thuật xây dựng Việt Nam thế kỷ XX”, tôi và Quốc Trị, Phó Tổng biên tập tạp chí Người Xây dựng đã đến nhà ông xin ảnh và xin tờ khai. Ông giữ chúng tôi lại ngồi nói chuyện rất lâu và tâm sự nhiều chuyện, về những vấn đề của đất nước mà ông vẫn còn nặng lòng trăn trở. Ông bảo ông không phải là nhà khoa học. Chúng tôi giải thích là tuy không phải là nhà khoa học, nhưng bác là người lãnh đạo khoa học của ngành nên cũng phải có tên và được vinh danh ở trang trên. Cũng thời gian đó chúng tôi đến nhà bác Đỗ Mười cũng để làm việc đó, bác Đỗ Mười còn phải viết Lời giới thiệu cho cuốn sách. Cả hai bác đều khen chúng tôi là đang làm một việc có ích cho ngành, cho đất nước. Sau khi ấn hành cuốn sách “Xây dựng và Trăn trở”, cuốn sách mà tôi dành công sức hơn 10 năm mới viết xong, tôi và Quốc Trị lại đến nhà ông một lần nữa để biếu sách. Lúc này là 11 giờ trưa, cậu cảnh vệ trẻ măng nói: “Giờ này ông đang ăn, sau đó ngủ, mời hai chú 2 giờ chiều quay lại”. Bọn tôi gửi cậu cảnh vệ cuốn sách, nhờ chuyển đến tay ông. Buổi chiều muộn, sau khi đi tập thể dục về, vợ tôi bả Ông Nguyên gọi  điện cho anh đấy. Tôi hỏi: Ông Nguyên nào? - Ông Nguyên mà anh tặng sách ấy. - Thế à, để đến tối anh sẽ gọi lại. - Không, anh gọi ngay đi, ông ấy đang chờ đấy, số điện thoại của ông ấy em ghi để trên bàn đó. Tôi nhấc điện thoại gọi, chưa kịp tự giới thiệu, thì bên kia đầu dây ông đã nhấc máy và nói ngay: Chú Hải à, tôi đã đọc sách của chú, mới được vài bài, tôi thấy chú viết hay lắm, thơ của chú cũng hay... Cứ vậy, tròn một tiếng đồng hồ ông nói, ông động viên rằng chú phải viết, phải nói, phải dũng cảm nói, người cộng sản phải như thế, mình nói với tinh thần xây dựng, nên không có gì phải e ngại. Ông đã chữa được bệnh viêm xoang, nên giọng ông sang sảng, lưu loát. Tôi chỉ vâng dạ, thỉnh thoảng mới chêm được vài câu. Cuộc nói chuyện qua điện thoại với ông đã khích lệ tôi rất nhiều, có thể nói nó như liều thuốc bổ, bồi dưỡng cho tôi sau 10 năm vất vả mới viết được quyển sách. Xin được nói đôi chút về quyển sách “Xây dựng và Trăn trở”. Sách dày 445 trang, chữ dày đặc, toàn chữ là chữ, khổ sách 17x24 cm, tập hợp 115 bài báo chọn lọc đã được đăng tải trên nhiều báo và tạp chí. Nhiều độc giả đọc đã gọi điện hoặc viết thư khen ngợi và động viên, trong đó phải kể đến ông Phạm Thế Duyệt, nguyên Uỷ viên thường trực Bộ Chính trị, GS. Viện sĩ Đặng Vũ Minh, Chủ tịch Liên hiệp Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam đã viết thư tay, gửi qua bưu điện cảm ơn và đánh giá cao về giá trị quyển sách; Nhà sử học Dương Trung Quốc, GS. Ngô Bảo Châu cũng đã đọc và rất hoan nghênh... Thượng tá, nhà giáo quân đội Nguyễn Duy Quang đã viết một bài báo dài đăng trên tạp chí Tri thức Thời đại, để giới thiệu cuốn sách. Quyển sách đã đến với ông Vũ Thế Khôi, con trai trưởng của cụ Vũ Đình Hoè, vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục đầu tiên, nhân sĩ trí thức thời Bác Hồ. Quyển sách cũng đã đến với ông Trần Văn Trường, con trai của cụ Trần Cung, nhà lão thành cách mạng từ những ngày mới thành lập Đảng. Có một chuyện vui là, sau khi đọc xong cuốn sách, ông Trường hỏi tôi: “Không hiểu một người như anh mà sao hồi chưa hưu anh lại không có một chức tước gì, tại sao anh vẫn là người không giàu”. Tôi cười và trả lời rằng: “Tại tôi, chính là tại tôi, không có ai trù dập tôi cả. Tôi có cái tính gọi là tốt cũng đúng mà gọi là xấu thì cũng không sai, đó là, tôi thường xa lánh người có quyền lực và xa lánh người giàu có. Gần người quyền lực tôi cảm thấy người mình như bị nhỏ bé đi, gần người giàu có tôi cảm thấy mình đau khổ hơn. Tất nhiên không phải ai có quyền lực, ai giàu có đều là người không tốt. Tốt, rất nhiều người tốt. Mình không gần người ta thì người ta biết mình muốn gì mà giúp đỡ. Nhưng tóm lại là tôi không thích gần họ, tránh xa ra cho nó lành”.

Xin lỗi bạn đọc, tôi hơi lan man. Xin quay lại chủ đề chính. Có một lần tôi đến thăm chị Lan tại nhà, khi biết chị đã bị bệnh nằm liệt trên giường, chị vẫn còn nhớ tới chuyến tàu có chú em bưng bê cơm nước. Chị trách: “Hồi đó vợ chồng tôi mời chú đến chơi nhà là thật lòng, nhưng chú sĩ không đến”. Khi được tin chị mất, tang lễ được tổ chức tại Nhà tang lễ quân đội số 5 Trần Thánh Tông, tôi ốm không đến tiễn chị được. Định 49 ngày, sẽ đến nhà thắp hương cho chị nhưng rồi lại lười, lại ngại ngùng. Thế nào tôi cũng đến thăm anh (xin phép được gọi ông bằng anh), đến thắp hương cho chị, khi mà tập truyện ngắn của tôi ra đời. Tôi hơi lo, không biết lúc đó sức khoẻ có cho phép anh đọc sách của tôi hay không, bởi năm nay anh đã 92 tuổi rồi”.

Viết thêm của tác giả: Nhà Xuất bản Văn học đã cho ra đời Tập Truyện - Ký “Kiếm sống” của tôi (trong đó có bài ĐÔI LẦN VỚI VỊ TƯỚNG ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN), tôi đến thăm ông, tặng sách và thắp hương cho bà. Cạnh bàn thờ, Ông kính cẩn đáp lễ rồi trực tiếp pha nước, mời tôi ngồi và bức xúc tâm sự về chuyện phá rừng, cho thuê rừng đầu nguồn. Sau đó ông nhờ tôi với tư cách là một nhà báo một việc. Ông nói “Chú biết rồi đấy cơn bão Haiyan tàn phá miền Trung nước Philippines gây ra hàng ngàn người chết hàng chục vạn người mất nhà cửa. Sau cơn bão tôi có nói với anh Trịnh Đình Dũng cử đoàn cán bộ của Bộ Xây dựng sang khảo sát, xem cơn bão mạnh như thế nhưng cũng có những ngôi nhà tồn tại, phân tích nguyên nhân vì sao những ngôi nhà ấy vẫn trụ được”. Rồi ông đề xuất ý tưởng của ông nên xây dựng những ngôi nhà ở Miền Trung nước ta như thế nào để chống được bão lũ lụt. Tôi ghi chép rất đầy đủ ý tưởng của ông và đã giới thiệu bài viết lên Tạp chí Người Xây dựng và trang thông tin điện tử của Tổng hội Xây dựng Việt Nam. Tôi hiểu rõ tấm lòng của ông, tuy đã hưu trí lâu rồi nhưng vẫn nặng lòng với đất nước với quê hương Quảng Bình của ông. Vẫn biết quy luật của tạo hoá là vậy và ông thuộc lớp người trường thọ, nhưng khi nghe tin ông mất tôi vẫn thấy sững sờ, đột ngột và vô cùng thương tiếc vì một tài năng, một nhân cách lớn đã ra đi…

HẢI ANH

Các tin khác

Hội chuyên ngành XD


Hội viên tập thể







123456