5/27/2019 9:38:00 AM
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article
... Từ nhiều năm nay, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Xây dựng đã ban hành nhiều chủ trương chính sách để thúc đẩy phát triển VLXKN. Tuy nhiên đến nay, tỷ lệ các công trình sử dụng loại vật liệu này đang còn ở mức khiêm tốn không như kỳ vọng...

VẬT LIỆU XÂY KHÔNG NUNG – CÔ GÁI GIÀ ĐỎNG ĐẢNH KHÓ KIẾM ĐƯỢC CHỒNG

Đọc đầu đề của bài viết chắc quý độc giả thấy khó hiểu, khó chịu và thấy có vẻ ngoa ngoắt. Xin độc giả cứ bình tĩnh để nghe câu chuyện lịch sử về sản phẩm này.

Năm 1966 sau khi giặc Mỹ ném bom Công trường xây dựng nhà máy thuỷ điện Thác Bà, đứa con Thuỷ điện đầu lòng của Tổ quốc, Công trường phải ngừng thi công, máy móc sơ tán vào trong rừng. Tôi thất nghiệp. May mắn thay, ngay sau đó tôi được Bộ Kiến trúc (tiền thân của Bộ Xây dựng) điều về công tác tại Thường trực Hội đồng kỹ thuật Bộ (tiền thân của Vụ Kỹ thuật) và được làm việc trực tiếp với cố Thứ trưởng KTS Nguyễn Cao Luyện. Tại thời điểm này Thường trực Hội đồng kỹ thuật có một đội công nhân lành nghề chuyên thực hiện các công trình thí điểm, công trình thực nghiệm các đề tài nghiên cứu khoa học. Đội này luôn được sự hỗ trợ về số liệu thí nghiệm, kiểm nghiệm của Viện Thí nghiệm VLXD (tiền thân của Viện Khoa học và công nghệ Xây dựng) có trụ sở tại Xã Cổ Nhuế - phố Trần Cung hiện nay. Từ thời đó lãnh đạo Bộ đã rất quan tâm đến Vật liệu Xây không nung. Từ thời đó đã nhận thức được vật liệu nung (gạch, ngói) tốn đất ruộng, tốn than, các lò gạch gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến mùa màng.

Những sản phẩm như gạch xỉ than, ngói xi măng lưới thép, ngói xi măng cát, gạch rỗng, tường trình vôi đất, tấm tường bằng sỏi nhỏ-cát-ximăng, tấm tường bằng phoi bào ép đã ra đời với đầy đủ các chỉ tiêu được kiểm nghiệm: độ bền, cường độ, sức chịu nén kéo uốn, độ thấm nước, sự thích nghi với thời tiết của VN… Cũng thời gian này cố Thứ trưởng Vũ Quý đi tham quan và khảo sát tại nước Cộng hoà Cu Ba anh em, ông đem về một kiểu nhà lắp ghép tấm nhỏ gọi là nhà Novoir. Công trình này hoàn toàn không dùng vật liệu nung và đã được Bộ cho làm thí điểm có đến gần chục cái nhà 2 tầng kiểu loại này… Từ đó đến nay đã hơn nửa thế kỷ, vật liệu xây không nung đã tiến đến đâu, phát triển hay dậm chân tại chỗ?!

Một cuộc Hội thảo lớn do Hội Bê tông Việt Nam thành viên của Tổng hội Xây dựng Việt Nam phối hợp với Vụ Khoa học Công nghệ & Môi trường, Vụ Vật liệu Xây dựng - Bộ Xây dựng tổ chức có tiêu đề “Phát triển Vật liệu Xây và cấu kiện không nung cho các công trình xây dựng - Thực trạng và giải pháp” ngày 5-4-2019 tại Khách sạn Daewoo. Ta thấy gì qua cuộc hội thảo này?

Cuộc hội thảo đã được chuẩn bị rất công phu, có rất nhiều bài tham luận sáng giá. Hội thảo đã cung cấp cho người tham dự một bức tranh toàn cảnh về thực trạng và sự phát triển của loại sản phẩm này. Bài phát biểu của lãnh đạo Bộ Xây dựng đã đánh giá về vật liệu xây không nung (VLXKN), xin được tóm tắt như sau: Tỷ trọng gạch không nung trong cả nước đã đạt trên 21% so với tổng vật liệu xây tương đương với 6.8 tỷ viên QTC. Trong đó gạch không nung bê tông (gạch block) có 2320 cơ sở sản xuất với tổng mức đầu tư khoảng 10.000 tỷ đồng; gạch bê tông khí với 16 dây chuyền chưng áp AAC vốn khoảng 1200 tỷ đồng; gạch bê tông bọt 13 dây chuyền tổng mức đầu tư 120 tỷ đồng; tấm tường bê tông rỗng 16 dây chuyền vốn 500 tỷ đồng.Các dây chuyền vữa xây với tổng công suất khoảng 400.000 tấn/năm của xi măng Hà Tiên, Mova, Cao Cường, Hanoitech, Next built… khoảng 120 tỷ đồng. Như vậy tổng đầu tư về sản xuất vật liệu không nung là khoảng 12.000 tỷ đồng. Tuy vậy vẫn chưa đầu tư về lưới sợi thuỷ tinh chống nứt, các phụ kiện, dụng cụ, máy móc thi công chuyên dụng để thi công các loại VLXKN khác nhau. Về những tồn tại của sản phẩm này Bộ đã nhận định: Chất lượng gạch, vữa xây trát đôi lúc đôi chỗ còn chưa đáp ứng được tiêu chuẩn; chất lượng các loại vật liệu phụ và phụ kiện không đảm bảo hoặc không sử dụng; chưa đa dạng hoá sản xuất cung ứng các loại VLXKN để phù hợp với điều kiện nguyên liệu, sản xuất, thói quen sử dụng, phù hợp với mỗi loại công trình tại các địa phương vùng miền khác nhau; thiết kế kiến trúc, thiết kế kết cấu, thiết kế thi công, thẩm tra, thẩm định khi sử dụng VLXKN không có sự khác biệt so với gạch nung; thi công không đúng với hướng dẫn kỹ thuật; VLXKN không được thử nghiệm kiểm tra trước khi đưa vào sử dụng; người thợ chưa nắm được quy trình thi công…

Trong hội thảo còn có nhiều ý kiến có nhiều nội dung thiết nghĩ cũng cần trao đổi và tranh luận để đi đến thống nhất.

Từ nhiều năm nay, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Xây dựng đã ban hành nhiều chủ trương chính sách để thúc đẩy phát triển VLXKN. Tuy nhiên đến nay, tỷ lệ các công trình sử dụng loại vật liệu này đang còn ở mức khiêm tốn không như kỳ vọng. Có nhiều lý do để lý giải việc không “mặn mà” trong việc sử dụng loại vật liệu này bởi thói quen, giá thành và đặc biệt là một số sự cố vừa qua khiến nhiều chủ đầu tư e dè, người dân chưa thực sự tin tưởng ở chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, tay nghề của thợ xây dựng đã quen với việc sử dụng gạch nung từ nhiều đời nay cùng với những dụng cụ đơn giản. Trong khi thi công VLXKN đòi  hỏi phức tạp hơn từ tay nghề của người thợ cho tới dụng cụ thi công, hồ vữa chuyên dụng. Do đó, thi công không đúng quy trình kỹ thuật thì sản phẩm xây  dựng dễ bị lỗi, gây nứt, bể…

 

Ngoài ra, các nhà sản xuất cũng không đưa ra một hướng dẫn sử dụng chi tiết hoặc có những khuyến cáo nào về loại sản phẩm VLXKN mà lẽ ra các loại sản phẩm thông thường phải có hướng dẫn sử dụng, có chăng chỉ thực nghiệm trên một vài mét vuông tại các triển lãm, hội thảo còn thực tế ngoài công trình rất ít. Nhiều chuyên gia đã chỉ rõ, để VLXKN đi vào cuộc sống thì phải phân loại gạch không nung, không thể nói chung chung là VLXKN, loại nào dùng cho công trình nào, ở đâu… Giới thiệu cho người dùng hiểu chứ không nói chung chung, chẳng ai hiểu chúng như thế nào. Phải tìm hiểu, phân tích thị trường để phân loại đối tượng sử dụng là những ai. Chẳng hạn như gạch xi măng cốt liệu, gạch bê tông khí chưng áp, bê tông bọt khí… phải phân loại ra vì viên gạch không phải là viên chịu lực thì làm sao bắt nó phải chịu lực, dùng sai nó hỏng là chuyện đương nhiên. Khi thiết kế phải sử dụng chúng đúng chức năng, mục đích. Bản chất của gạch ACC là xốp, cách nhiệt thì phải dùng chúng đúng với chức năng đó Để phát triển bền vững sản xuất và sử dụng VLXKN, một số chuyên gia ngành Xây dựng cho rằng, các doanh nghiệp phải đầu tư chiều sâu, ứng dụng công nghệ tiên tiến; nhà cung ứng bê tông nhẹ phải cung cấp đồng bộ vữa xây, vữa trát chuyên dụng phù hợp với chất lượng bê tông; phải tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề am hiểu về kỹ thuật xây, trát, nghiệm thu tường xây… Bên cạnh đó, cần hoàn chỉnh, ban hành hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật thi công, các định mức, đơn giá liên quan đến việc sản xuất và sử dụng các chủng loại VLXKN để có cơ sở áp dụng đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị thiết kế, chủ đầu tư và nhà thầu trong việc đưa các loại sản phẩm này vào công trình.

Về VLXKN, phải nói là Nhà nước đã ủng hộ hết mức thậm chí là quá mức. Cụ thể như Điều 2 Thông tư số 09/2012/TT-BXD ngày 28/11/2012 của Bộ Xây dựng quy định: Các công trình xây dựng được đầu tư bằng nguồn vốn Nhà nước theo quy định hiện hành bắt buộc phải sử dụng vật liệu xây không nung theo lộ trình. Tại các đô thị loại 3 trở lên phải sử dụng 100% vật liệu xây không nung kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực (15/1/2013). Tại các khu vực còn lại phải sử dụng tối thiểu 50% vật liệu xây không nung kể từ ngày 15/1/2013 đến hết năm 2015, sau năm 2015 phải sử dụng 100%; Các công trình xây dựng từ 9 tầng trở lên không phân biệt nguồn vốn, đến năm 2015, phải sử dụng tối thiểu 30% và sau năm 2015 phải sử dụng tối thiểu 50% vật liệu xây không nung loại nhẹ trong tổng số vật liệu xây (tính theo thể tích khối xây).

Ngày nay với cơ chế thị trường, xem ra bắt buộc kiểu đó không còn phù hợp nữa. Trong hội thảo, người ta vẫn còn nghe thấy những tiếng nói “nặng mùi” bao cấp. Ví như:

- Tôi đã có sản phẩm khá tốt sao Nhà nước không ban hành tiêu chuẩn sản phẩm cho tôi để tôi phổ biến bán rộng ra thị trường?

- Tôi đã có sản phẩm tốt tại sao Nhà nước không ban hành định mức kinh tế cho tôi để tôi có cơ sở thanh toán với bên mua?

- Tại sao thanh tra xây dựng không thanh tra “công trình có sử dụng gạch không nung hay không?”

- Tôi đã có sản phẩm sao Nhà nước không mở trường đào tạo để hướng dẫn cho công nhân biết cách sử dụng để đưa sản phẩm của tôi vào công trình, tại sao Nhà nước không cấp chứng chỉ cho những người được đào tạo. Có bao nhiêu trường đào tạo công nhân nay Nhà nước đã biến thành trường Cao đẳng, Đại học hết rồi.

- Trong hơn mười dây chuyền sản xuất gạch không nung… thì chỉ có vài dây chuyền phát huy được hiệu quả còn lại đắp chiếu và có nguy cơ phá sản vì không tiêu thụ được sản phẩm. Vậy Nhà nước phải cứu tôi, không được để tôi phá sản…

Nghe đến đây tôi chợt nghĩ đến bà con nông dân ta chỉ biết trồng rồi thu hoạch, không biết đầu ra sản phẩm của mình như thế nào ai sẽ mua sản phẩm của mình nên hết giải cứu dưa hấu đến giải cứu thanh long rồi giải cứu cà rốt…

Chúng ta đều biết là thị trường quyết định sản phẩm. Sản phẩm muốn được thị trường chấp nhận thì người sản xuất phải lo từ A đến Z. Nghĩa là ngoài việc phải đảm bảo chất lượng sản phẩm, giá thành hợp lý, thi công thuận lợi thì còn phải làm công tác tiếp thị, hướng dẫn sử dụng, trực tiếp thi công và bảo hành… Nếu bản thân một doanh nghiệp không làm được thì phải nhờ đến Hội nghề nghiệp của mình làm cho. Còn Nhà nước là Nhà nước kiến tạo, định ra phương hướng và ban hành các chính sách ưu tiên, động viên, khuyến khích như giảm thuế, miễn thuế cho những doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm thân thiện với môi trường,

Nhà nước có thể tăng mức thuế suất thuế tài nguyên đối với đất làm gạch nung lên cao hơn để tạo điều kiện cho VLXKH cạnh tranh với vật liệu xây nung. Nhà nước chỉ tạo điều kiện chứ không thể làm thay được. Tất cả những câu hỏi những yêu cầu nêu trên đó là công việc của doanh nghiệp, của Hội nghề nghiệp không phải là việc của Nhà nước. Hiện nay đã có một số doanh nghiệp làm tốt việc này trong đó phải kể đến Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Xuân Mai, ngoài việc tạo ra sản phẩm, Công ty này đã có một đội ngũ cán bộ công nhân đem sản phẩm của mình đi mọi nơi và lắp ghép thi công trực tiếp vào công trình tức là chịu trách nhiệm từ A đến Z. Khi mà có nhiều doanh nghiệp làm được như thế, khi mà

Hội Bê tông Việt Nam, thành viên của Tổng hội xây dựng VN được các doanh nghiệp tin cậy với công việc đầy ắp… thì chẳng mấy chốc VLXKN sẽ chiếm lĩnh thị trường đánh bạt được vật liệu nung (1) và lúc đó cái tít của bài viết này sẽ trở nên vô duyên.

Ghi chú (1): Để sản xuất 1 tỷ viên gạch đất sét nung có kích thước tiêu chuẩn sẽ tiêu tốn khoảng 1.500.000 m 3 đất sét tương đương 75 hecta đất nông nghiệp (độ sâu khai thác 2m) và 150.000 tấn than, đồng thời thải ra khoảng 0.57 triệu tấn khí CO2, gây hiệu ứng nhà kính và các khí thải độc hại khác gây ô nhiễm môi trường. Đứng trước thực trạng cạn kiệt tài nguyên cho sản xuất nông nghiệp cũng như nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 567/QĐ-TTg ngày 28-4-2010 về việc phê duyệt chương trình VLXKN đến năm 2020. Bộ Xây dựng ban hành Thông tư 09/2012/TT-BXD ngày 28/11/2012 nay được thay thế bằng Thông tư 13/2017/TT-BXD ngày 08-12-2017 về việc quy định sử dụng VLXKN trong công trình xây dựng.

      

 
      
 
      
      
      
 
Nguyễn Xuân Hải

 

Các tin khác

Hội chuyên ngành XD


Hội viên tập thể







123456